BVBNĐ-30/11/2013) Ngày Thế giới phòng chống AIDS năm 2013, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đang kêu gọi sự chú ý đến các nhu cầu đặc biệt của thanh thiếu niên.

Trong năm 2012, ước tính có khoảng 2,1 triệu thanh thiếu niên trên toàn thế giới đang sống với HIV. Mặc dù số lượng các ca tử vong trên toàn cầu liên quan đến HIV trong dân số nói chung giảm 30% trên toàn thế giới từ năm 2005 đến 2012, nhưng trong thanh thiếu niên, con số này tăng 50%.

Thanh thiếu niên (tuổi từ 10 - 19 tuổi) đặc biệt dễ bị tổn thương với HIV do đối tượng này ở trong giai đoạn chuyển tiếp về thể chất và cảm xúc. So với người lớn, họ có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi tình dục và ma túy hơn. 

M.Q. (Theo WHO)

(BVBNĐ-27/11/2013) Trường hợp bệnh nhi thứ hai tử vong sau tiêm chủng tại tỉnh Bạc Liêu được Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế xác định nguyên nhân tử vong không do vắc xin hay quy trình tiêm chủng.

 

(BVBNĐ-27/11/2013) Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt Simeprevir - một chất ức chế protease (Olysio, Janssen Pharmaceuticals) để điều trị nhiễm viêm gan C mạn tính.

Simeprevir là thuốc ức chế protease thứ ba điều trị viêm gan C được tung ra thị trường. Boceprevir (Victrelis, Merck) và telaprevir (Incivek, Vertex Pharmaceuticals) được FDA phê chuẩn vào năm 2011.

Các loại thuốc điều viêm gan C mới này được chỉ định cho bệnh nhân viêm gan siêu vi C giai đoạn còn bù người lớn, gồm cả bệnh nhân có chẩn đoán xơ gan, người chưa được điều trị viêm gan C, hoặc những người không đáp ứng tốt với phương pháp điều trị trước đó. Simeprevir được chỉ định là một phần của phác đồ phối hợp thuốc.

(VMQ, theo Medscape)

The figure shows confirmed cases of Middle East respiratory syndrome coronavirus infection (N = 130) reported to the World Health Organization as of September 20, 2013, and history of travel from in or near the Arabian Peninsula within 14 days of illness onset during 2012-2013. All cases have been directly or indirectly linked through travel to or residence in four countries: Saudi Arabia, Qatar, Jordan, and the United Arab Emirates.(BVBNĐ-28/9/2013) Hội chứng hô hấp Trung đông do coronavirus (MERS-CoV) lần đầu tiên được báo cáo vào tháng 9/2012. Tháng 7/2013 Tổ chức Y tế thế giới xác định rằng MERS-CoV không đủ tiêu chuẩn để xếp loại là “tình huống y tế cộng đồng khẩn cấp” của toàn thế giới, nhưng vẫn là vấn đề lớn và quan trọng của sức khỏe. Báo cáo này đã cập nhật tóm tắt thông tin dịch tễ học và hướng dẫn đánh giá tình trạng bệnh nhân, định nghĩa ca bệnh, ...

Tính đến ngày 20/9/2013, tổng cộng có 130 trường hợp từ 8 quốc gia đã được WHO thông báo. 58 (45%) các trường hợp đã tử vong. Tất cả các trường hợp đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc du lịch hay cư trú tại bốn quốc gia: Ả Rập Saudi, Qatar, Jordan, United Arab Emirates (UAE). Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 50 tuổi, nam mắc bệnh nhiều hơn nữ (1,6 lần). Điều đáng quan tâm là có 18% (23 người) là nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân. Không phải tất cả các trường hợp đều nặng và bắt buộc điều trị nội trú, có trên 27 người (21%) có biểu hiện với các triệu chứng nhẹ hoặc không có triệu chứng. Mặc dù có bằng chứng cho thấy bệnh lây truyền từ người sang người nhưng số liệu vẫn còn hạn chế. 

Ổ chứa mầm bệnh ở động vật và cơ chế lây truyền MERS-CoV sang con người vẫn chưa rõ ràng. Ban đầu động vật được nghi ngờ là dơi. Một số báo cáo gần đây đề cập đến lạc đà. 

Qua 47 bệnh nhân được khảo sát đầy đủ nhất cho thấy, hầu hết bị sốt (98%), ho (83%), và khó thở (72%). Nhiều người cũng có triệu chứng ở đường tiêu hóa như tiêu chảy (26%), nôn nói (21%). Hầu hết bệnh nhân (96%) có một hoặc nhiều bệnh mạn tính như tiểu đường (68%), tăng huyết áp (34%), bệnh tim (28%) và bệnh thận (49%). Có nhiều người (34 người, 72%) có trên 2 bệnh mạn tính. 

Xem thêm tại đây.

M.Q. (Theo CDC)

 

 

(BVBNĐ-14/9/2013) Ngày 28/6/2013 CDC được thông báo về 2 trường hợp nhiễm Cyclospora tại Iowa. Hai bệnh nhân này không có tiền sử du lịch khỏi Hoa Kỳ trong vòng 14 ngày trước khi khởi phát bệnh. Kể từ đó CDC, FDA phối hợp với các cơ quan y tế địa phương điều tra đợt bùng phát nhiễm cyclospora sp. Tính đến ngày 06/9/2013, có tất cả 646 người nhiễm Cyclospora đã được báo cáo từ 24 tiểu bang. 

Người bệnh có độ tuổi trung bình là 52 tuổi (từ dưới 1 tuổi đến 92 tuổi). 57% là phụ nữ. Với thông tin có sẳn của 575 người bệnh, 44 (8%) đã được nhập viện, không có trường hợp nào tử vong.

Kén hợp tử của C. cayetanensis hiển thị đi từ không lây nhiễm để lây nhiễm và nhân rộng.  Mô tả thêm là dưới đây.

Cyclosporiasis là một bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa do ký sinh trùng Cyclospora cayetanensis  gây ra.

Mọi người có thể bị nhiễm Cyclospora qua sử dụng thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm ký sinh trùng. Những người sống hoặc đi du lịch đến các quốc gia có cyclosporiasis lưu hành có thể tăng nguy cơ nhiễm trùng.

Các nhân viên y tế công cộng ở Iowa và Nebraska thực hiện điều tra trong phạm vi tiểu ban và kết luận các trường hợp nhiễm bệnh có liên quan đến một loại thực phẩm là salad trộn do Taylor Farms de mexico sản xuất.

(xem thêm tại đây)

M.Q. Theo CDC

Đồ thị cho thấy nguyên nhân tử vong hàng đầu trên toàn thế giới năm 2011.

(WHO-27/8/2013) Bệnh tim thiếu máu, đột quỵ, nhiễm trùng đường hô hấp dưới, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, tiêu chảy và nhiễm HIV/AIDS vẫn là những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở người lớn trên toàn thế giới trong thập kỷ qua. 

Bệnh lao không còn trong 10 nguyên nhân tử vong hàng đầu, nhưng vẫn còn trong top 15, đã giết chết một triệu người trong năm 2011.

Bệnh mạn tính gây tăng số lượng các ca tử vong trên toàn thế giới. Ung thư phổi (cùng với khí quản và ung thư phế quản) gây ra 1,5 triệu (2,7%) trường hợp tử vong trong năm 2011, tăng từ 1,2 triệu (2,2%) trường hợp tử vong trong năm 2000. Tương tự như vậy, bệnh tiểu đường gây ra 1,4 triệu (2,6%) trường hợp tử vong trong năm 2011, tăng từ 1,0 triệu (1,9%) trường hợp tử vong trong năm 2000. Xem thêm tại đây.

M.Q

(BVBNĐ-25/8/2013) Theo báo cáo của Viện Pasteur TP.HCM về tình hình giám sát dịch tễ bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) trong tháng 7/2013 có 3.441 người mắc bệnh (người lớn chiếm 42%) cao hơn tháng 6/2013 (2.687 người), nhưng giảm hơn so với tháng 7/2012 58,6% (8.312 người). Các tỉnh có số người mắc bệnh tăng hơn tháng trước là Bà rịa Vũng tàu, Long an, Bình phước, Bình dương, Đồng nai và An giang. Số người bị SXHD nặng chiếm 6,51%. 

Trong tháng 7/2013 cũng có 2 bệnh nhân đã tử vong tại Vĩnh long và Trà vinh.

Về giám sát virus, 5/67 (7,5%) mẫu bệnh phẩm phân lập được virus Dengue. Type DEN-4 chiếm ưu thế so với các type virus khác.

M.Q.

(VNE-23/8/2013) Không thể tự thở, tổn thương nội tạng, suy gan thận, xuất huyết tiêu hóa ồ ạt, Thanh Ngân, 18 tuổi ở Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu) và 2 cô gái khác vừa may mắn được các bác sĩ Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP HCM cứu sống.

Các bác sĩ cho biết, đây là những trường hợp sốt xuất huyết nhập viện với bệnh trạng nặng nhất mà Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP HCM từng điều trị.

sot-xuat-huyet-1377307059.jpg
Một trường hợp sốt xuất nặng đang điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP HCM. Ảnh: Thiên Chương

Theo bác sĩ Nguyễn Thanh Trường, Trưởng khoa Nhiễm D, trường hợp thứ nhất, bệnh nhân Thanh Ngân được đưa đến sau 3 ngày hôn mê tại bệnh viện ở Bà Rịa. Khi nhập viện, cô gái suy hô hấp, suy tuần hoàn, xuất huyết ngoài da và xuất huyết nội tạng ồ ạt. "Người bệnh tím tái toàn thân, không thể tự thở, dấu hiệu sinh tồn gần như bằng không", bác sĩ Trường nói.

Tại khoa Hồi sức cấp cứu và chống độc người lớn, Thanh Ngân được đặt nội khí quản để thở bằng máy, lọc máu đồng thời truyền bù lượng máu đã mất. Phải mất đến 48 giờ sau khi nhập viện, bệnh nhân được khống chế tình trạng xuất huyết nội tạng, tuy nhiên vẫn còn hôn mê.

"Mọi việc tưởng vô vọng thì đến ngày thứ 5, bệnh nhân bắt đầu có dấu hiệu hồi phục chức năng gan thận và hô hấp. Việc lọc máu thực hiện đến ngày thứ 7 thì bệnh nhân tỉnh dần. Người bệnh tiếp tục điều trị suy gan suy thận đến ngày thứ 14 thì các tổn thương này bình phục hẳn", một bác sĩ khoa Hồi sức cấp cứu chống độc người lớn, nói.

Có tất cả 19 đơn vị hồng cầu lắng, 18 đơn vị tiểu cầu, 7 đơn vị huyết tương đông lạnh, 5 đơn vị kết tủa, tương đương 10 lít máu đã được truyền cho bệnh nhân. Đến sáng 24/8, Ngân đã hoàn toàn bình phục. Đây được xem là trường hợp tưởng đã tử vong nhưng lại được cứu sống tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP HCM.

Ở trường hợp thứ hai, bệnh nhân 22 tuổi được chuyển đến từ Bệnh viện Lê Lợi (Bà Rịa - Vũng Tàu) cũng trong tình trạng sốc nặng, rối loạn tri giác, mê man, xuất huyết ồ ạt, tổn thương nội tạng. Bằng những biện pháp cấp cứu và điều trị tích cực như lọc máu, bù máu các bác sĩ đã giúp bệnh nhân bình phục sau hơn 10 ngày thở máy.

Bệnh nhân thứ ba 17 tuổi nhà ở Đăk Lăk, bị sốt xuất huyết đặc biệt hiếm gặp bởi khi vào viện, tình trạng xuất huyết đã khiến cô chỉ còn khoảng 12% hồng cầu trên tổng lượng 40% hồng cầu của người bình thường. "Bệnh nhân sốc mất máu nghiêm trọng, toàn thân xanh như tàu lá. Chúng tôi đã phải bù máu liên tục trong nhiều ngày thì người bệnh mới dần hồng hào trở lại. Chỉ cần nhập viện muộn hơn vài phút, bệnh nhân chắc chắn tử vong", đại diện êkíp cấp cứu cho biết.

Tiến sĩ - bác sĩ Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP HCM cho hay, đến nay sức khỏe của cả 3 bệnh nhân đã hoàn toàn ổn định và một người đã xuất viện. "Đây là 3 ca sốt xuất huyết nguy kịch nhất từ trước đến nay mà chúng tôi cứu sống", bác sĩ Châu cho biết.

Với tư cách là thành viên ban điều hành dự án phòng chống sốt xuất huyết quốc gia, bác sĩ Châu cho biết, sốt xuất huyết người lớn đang có xu hướng tăng. Hiện tỷ lệ bệnh người lớn chiếm 42% và nguy hiểm hơn cả là người lớn thường chủ quan nghĩ bị cảm sốt thông thường nên khi nhập viện thì bệnh đã khá nặng.

"Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP HCM đang tổ chức lớp tập huấn cho các đa khoa tỉnh trong khu vực, tăng cường kiểm tra giám sát vấn đề chẩn đoán, điều trị; tiếp tục phối hợp với ĐH Oxford nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố liên quan đến bệnh nặng, đáp ứng miễn dịch trong bệnh sốt xuất huyết", bác sĩ Châu nói.

Hiện trung bình mỗi ngày Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới tiếp nhận khoảng 20 trường hợp người lớn mắc sốt xuất huyết. 

Thiên Chương

(BVBNĐ-24/8/2013) Xuất hiện vào năm 2012, viêm phổi do chủng mới của Coronavirus đã tạo ra mối quan tâm đáng kể. Tính đến ngày 26/6/2013, Hội chứng hô hấp trung Đông do Coronavirus (MERS-CoV) đã ghi nhận 77 trường hợp và 40 trường hợp đã tử vong. Vấn đề đặt ra là MERS-CoV có khả năng gây ra đại dịch không? Trên tp chí The Lancet, Romulus Breban và các đồng nghiệp đã trả lời câu hỏi này. 

Breban và các đồng nghiệp áp dụng một phương pháp thống kê chuyên ngành để ước tính giá trị R0 (hệ số phát triển cơ bản - số lượng trung bình các nhiễm mới gây ra do một cá thể mắc bệnh trong một quần thể nhạy cảm) của MERS-CoV. Bằng cách xây dựng các kịch bản khác nhau cho những người bị nhiễm MERS-CoV. Trong trường hợp xấu nhất, R0 = 0,69 (CI 0.50-0.92 95%). Có nghĩa là MERS-CoV không có khả năng gây ra một đại dịch. Để so sánh, các nhà nghiên cứu ước tính rằng R0 là 0,80 (CI 0,54 -1.13 95%) cho dịch SARS ở Đông Nam Á vào năm 2002-2003.

(Đọc thêm tại đây).

M.Q. (theo Lancet)

(BVBNĐ-23/8/2013) Hai bệnh nhân trẻ em tại Hoa Kỳ vừa được cứu sống sau khi bị nhiễm “Amip ăn não” Naegleria fowleri. Hai bệnh nhân này được điều trị bằng thuốc miltefosine.

Miltefosine được sản xuất tại Đức và bán trên thị trường để điều trị bệnh Leishmaniasis. Trong hai trường hợp bệnh nhân trẻ em nói trên, phác đồ điều trị gồm miltefosine kết hợp amphotericin B, rifampin, fluconazole và azithromycin. Miltefosine được ghi nhận dung nạp tốt, tác dụng phụ nhiều nhất ở đường tiêu hóa như buồn nôn và nôn.

Bệnh nhân nhiễm amíp ăn não hầu hết đều tử vong. 128 trường hợp được ghi nhận tại Hoa Kỳ từ năm 1962 đến 2012, Chỉ có một người sống sót duy nhất vào năm 1978. 

Xem thêm (tại đây)

M.Q. (Theo Medscape)

(SK&ĐS-17/8/2013) Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC), bệnh amíp ăn não người do amíp Naegleria fowleri (N. fowleri) gây ra đang có nguy cơ quay trở lại. Bằng chứng, bé gái 12 tuổi Kali Harding ở Arkansas, Mỹ đã bị lâm bệnh phải đưa đi cấp cứu hôm 30/7/2013 ngay sau khi tắm ở Công viên nước Willow Spring.

Cảnh báo nguy cơ bùng phát của amíp N.fowleri

Theo CDC, bệnh “ăn” não người do amíp N.fowleri gây ra là căn bệnh lạ và hiếm gặp nhưng mức độ nguy hiểm rất cao, đe dọa trực tiếp đến tính mạng con người. Theo thống kê, tại Mỹ, từ năm 1937 - 2007 có 121 người mắc bệnh, từ 2001 - 2011 có tới 35 ca tử vong, trong đó có 32 ca tiếp xúc trực tiếp với nguồn nước tại các khu vực vui chơi giải trí công cộng. Một số quốc gia như New Zealand, từ năm 1968 - 1978 có 8 ca tử vong vì amíp N.fowleri; tại Anh, năm 1979 có 1 bé gái tử vong sau khi tắm tại một bể bơi của thành phố Bath, sau đó người ta xét nghiệm và phát hiện thấy hồ tắm này bị nhiễm N.fowleri và họ buộc phải đóng cửa. Ngoài ra, tại Pakistan và Tiệp Khắc (cũ) cũng có hàng chục ca nhiễm bệnh tương tự vì N.fowleri sau khi tắm ở các hồ bơi.

 

Amíp “ăn” não người: Căn bệnh đang quay trở lại 1

 Amip Naegleria fowleri thường được tìm thấy trong các ao, hồ, bể bơi công cộng.

Trường hợp Kali Harding nói trên cũng không ngoại lệ. Theo bà Traci thì con gái bà bị bệnh sau khi tắm ở bể bơi của Công viên nước Willow Spring, Little Rock, Arkansas. Ngay sau khi tắm, Harding đã bị sốt, nôn ói, đau đầu dữ dội, mắt lờ đờ. Qua khám bệnh, bác sĩ phát hiện Harding mắc bệnh do sinh vật đơn bào ăn não người có tên N.fowleri gây ra. N.fowleri là thủ phạm gây bệnh viêm màng não hay còn gọi là viêm màng não amíp sơ cấp (PAM). N.fowleri là loại sinh vật đơn bào thường tìm thấy trong các nguồn nước ấm như ao, hồ, sông, suối, bể bơi... nhất là những nơi có nhiệt độ từ 25 - 42oC, sau đó chúng thâm nhập cơ thể con người qua đường mũi và di chuyển dọc theo dây thần kinh khứu giác lên não, sau đó bắt đầu phá hủy mô và “ăn thịt” não.

Triệu chứng nhiễm khuẩn N.fowleri thường xuất hiện trong thời gian 7 ngày sau khi phơi nhiễm, gây đau, cứng cổ, nhức đầu, sốt, buồn nôn. Các triệu chứng thứ phát có thể thấy như mất tập trung, co giật. Căn bệnh này rất dễ nhầm với bệnh viêm não do vi khuẩn hoặc virut nên việc chẩn đoán khó khăn. Ở thể nặng, nguy cơ tử vong cao, có thể diễn ra trong vòng 2 tuần kể từ khi nhiễm bệnh.

Vài nét về amíp ăn não người 

Amíp N.fowleri được hai bác sĩ là M. Fowler và RF Carter nhắc đến lần đầu tiên tại Úc năm 1965. Sau đó được Fowler chính thức đặt cho tên gọi là viêm màng não amíp sơ cấp (PAM) để phân biệt với căn bệnh thứ cấp gây ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương (CNS) do các loại amíp khác gây ra như amíp Entamoeba histolytica. N.fowleri là một loại sinh vật đơn bào thuộc nhóm excavata, sống tự do, thường tìm thấy trong các khu vực nước ngọt ấm. Nó cũng được tìm thấy trong đất, gần khu nước thải ấm của các nhà máy công nghiệp, bể bơi không được xử lý bằng clo. Người ta không tìm thấy bằng chứng N.fowleri tồn tại trong nước biển. N.fowleri có thể tồn tại trong tự nhiên ở 3 hình thái là u nang, dạng tư dưỡng (ameboid) giống như amíp và trùng roi, sở hữu trên 15.700 gen mã hóa protein. Bình thường, chúng thường tìm và ăn vi khuẩn hoặc cũng có thể chuyển sang dạng trùng roi để bơi. Đôi khi N.fowleri có thể “tàng hình” tạo thành dạng bào nang, nhất là khi môi trường khắc nghiệt. Đây là thế mạnh của N.fowleri nên loại đơn bào này có thể tồn tại dai dẳng ở những nơi ấm và ẩm ướt. Tại những vùng nhiệt đới, điều kiện ấm áp, N.fowleri phát triển rất nhanh và mạnh, có nhiều trong nước kém vệ sinh, trong thức ăn, rau sống, tay bẩn có dính kén amíp, sau đó thâm nhập cơ thể. Nếu ở mức độ nhẹ có thể gây rối loạn tiêu hóa và nặng có thể gây áp-xe, gây bệnh lỵ, đau quặn, đi ngoài ra phân, máu... Nếu nhiễm amíp N.fowleri đường tiêu hóa và được điều trị kịp thời sẽ ít nguy hiểm đến tính mạng, nhưng một khi nó chui lên não thì cực kỳ nguy hiểm, gây viêm não và nặng có thể dẫn đến tử vong, tỷ lệ tử vong lên tới  98% thông qua cơ chế ăn các nơ-ron thần kinh, gây đau đầu khủng khiếp, sốt cao, ảo giác và thậm chí mất khả năng kiểm soát hành vi.

Theo khuyến cáo của CDC, để hạn chế nguy cơ mắc bệnh, mọi người nên hạn chế các hoạt động tại vùng nước ấm, đặc biệt là những nơi có điều kiện vệ sinh kém. Sử dụng các dụng cụ để bảo vệ mũi, miệng tránh tiếp xúc với nước tại các bể bơi công cộng, tiếp xúc với bùn, trầm tích dưới đáy ao hồ. Ngoài ra, nên khử khuẩn nguồn nước tại các bể bơi công cộng, hệ thống nước sinh hoạt của các gia đình. May thay, N.fowleri không gây bệnh qua đường uống, trừ khi súc miệng nước bị nhiễm amíp xộc lên mũi. Mọi người không nên uống nước lã, nên dùng nước sạch đã được chưng cất, tiệt khuẩn, lọc hoặc đun sôi, thường xuyên rửa sạch và lau khô chậu chứa, chai lọ, cốc chén đựng nước và thường xuyên rửa tay sạch sẽ.

NAM BẮC GIANG (Theo  CDC/LS, 8/2013 )

(nguồn  www.suckhoedoisong.vn)

(BVBNĐ-18/8/2013) Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) ngày 12/8/2013 đã thông qua và cho phép sử dụng thuốc tivicay (dolutegravir) - một loại thuốc mới để điều trị nhiễm HIV-1. Tivicay là chất ức chế integrase. Thuốc có thể được sử dụng cho những người mới nhiễm HIV hoặc những người nhiễm HIV đã và đang điều trị. Đây là thuốc viên uống hàng ngày được dùng kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác. Thuốc cũng được chấp thuận dùng cho trẻ em từ 12 tuổi trở lên có trọng lượng ít nhất 40kg.

Tính an toàn và hiệu quả Tivicay ở người lớn đã được đánh giá trong 2539 người tham gia tham gia trong 4 thử nghiệm lâm sàng. Người tham gia được chọn ngẫu nhiên điều trị Tivicay hoặc Isentress (raltegravir), kết hợp với các thuốc ARV khác là Efavirenz, Emtricitabine và Tenofovir. Kết quả cho thấy phác đồ Tivicay  có hiệu quả trong việc giảm tải lượng virus. Tác dụng phụ trong nghiên cứu lâm sàng bao gồm khó ngủ  và nhức đầu. Tác dụng phụ nghiêm trọng bao gồm phản ứng quá mẫn và chức năng gan bất thường ở những bệnh nhân bị đồng nhiễm viêm gan B và/hoặc C. Khi dùng thuốc, cần theo dõi các tác dụng phụ này, đặc biệt là các tác dụng phụ nghiêm trọng.

M.Q (Theo AIDSinfo)

Go to top